Kinh Thánh Cựu Ước

Năm sách của Môi-se
1. Sáng thế ký 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50
2. Xuất Ê-díp-tô ký 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40
3. Lê vi ký 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27
4. Dân số ký 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36
5. Phục truyền Luật lệ ký 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34

Các sách Lịch sử
6. Giô-suê 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24
7. Các quan xét 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21
8. Ru-tơ 1 2 3 4
9. I Sa-mu-ên 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31
10. II Sa-mu-ên 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24
11. I Các vua 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22
12. II Các vua 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25
13. I Sử ký 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29
14. II Sử ký 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36
15. Ê-xơ-ra 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
16. Nê-hê-mi 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13
17. Ê-xơ-tê 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10

Các sách văn thơ
18. Gióp 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42
19. Thi thiên
Quyển thứ nhất 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41
Quyển thứ hai 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 61 62 63 64 65 66 67 68 69 70 71 72
Quyển thứ ba 73 74 75 76 77 78 79 80 81 82 83 84 85 86 87 88 89
Quyển thứ tư 90 91 92 93 94 95 96 97 98 99 100 101 102 103 104 105 106
Quyển thứ năm 107 108 109 110 111 112 113 114 115 116 117 118 119 120 121 122 123 124 125 126 127 128 129 130 131 132 133 134 135 136 137 138 139 140 141 142 143 144 145 146 147 148 149 150
20. Châm ngôn 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31
21. Truyền đạo 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
22. Nhã ca 1 2 3 4 5 6 7 8

Các sách tiên tri
23. Ê-sai 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 61 62 63 64 65 66
24. Giê-rê-mi 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52
25. Ca thương 1 2 3 4 5
26. Ê-xê-chi-ên 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48
27. Đa-ni-ên 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
28. Ô-sê 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14
29. Giô-ên 1 2 3
30. A-mốt 1 2 3 4 5 6 7 8 9
31. Áp-đia 1
32. Giô-na 1 2 3 4
33. Mi-chê 1 2 3 4 5 6 7
34. Na-hum 1 2 3
35. Ha-ba-cúc 1 2 3
36. Sô-phô-ni 1 2 3
37. A-ghê 1 2
38. Xa-cha-ri 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14
39. Ma-la-chi 1 2 3 4

Kinh Thánh Tân Ước

Các sách Phúc Âm
1. Ma-thi-ơ: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28
2. Mác: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16
3. Lu-ca 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24
4. Giăng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21

Sách lịch sử
5. Công Vụ các sứ đồ 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28

Các thư tín
6. Rô-ma 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16
7. I Cô-rinh-tô 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16
8. II Cô-rinh-tô 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13
9. Ga-la-ti 1 2 3 4 5 6
10. Ê-phê-sô 1 2 3 4 5 6
11. Phi-líp 1 2 3 4
12. Cô-lô-se 1 2 3 4
13. I Tê-sa-lô-ni-ca 1 2 3 4 5
14. II Tê-sa-lô-ni-ca 1 2 3
15. I Ti-mô-thê 1 2 3 4 5 6
16. II Ti-mô-thê 1 2 3 4
17. Tích 1 2 3
18. Phi-lê-môn 1
19. Hê-bơ-rơ 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13
20. Gia-cơ 1 2 3 4 5
21. I Phi-e-rơ 1 2 3 4 5
22. II Phi-e-rơ 1 2 3
23. I Giăng 1 2 3 4 5
24. II Giăng 1
25. III Giăng 1
26. Giu-đe 1

Sách tiên Tri
27. Khải huyền 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22

Sơ đồ Sách Khải Huyền
  • Sách đầu tiên của Kinh Thánh
  • Chương bắt đầu của Kinh Thánh
 

Sáng thế ký

Giãi Ngân Hà (The Milky Way galaxy)

Tạo thành trời đất

1

1 Ban đầu 1 Đức Chúa Trời 2 dựng nên trời đất. 3
2 Vả, đất là vô hình và trống không, sự mờ tối ở trên mặt vực; Thần Đức Chúa Trời vận hành trên mặt nước.

3 Đức Chúa Trời phán rằng: Phải có sự sáng; thì có sự sáng.
4 Đức Chúa Trời thấy sáng là tốt lành, bèn phân sáng ra cùng tối.
5 Đức Chúa Trời đặt tên sự sáng là ngày; sự tối là đêm.

Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ nhứt.

6 Đức Chúa Trời lại phán rằng: Phải có một khoảng không ở giữa nước đặng phân rẽ nước cách với nước.
7 Ngài làm nên khoảng không, phân rẽ nước ở dưới khoảng không cách với nước ở trên khoảng không; thì có như vậy.
8 Đức Chúa Trời đặt tên khoảng không là trời. Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ nhì.

9 Đức Chúa Trời lại phán rằng: Những nước ở dưới trời phải tụ lại một nơi, và phải có chỗ khô cạn bày ra; thì có như vậy.
10 Đức Chúa Trời đặt tên chỗ khô cạn là đất, còn nơi nước tụ lại là biển. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt lành.
11 Đức Chúa Trời lại phán rằng: Đất phải sanh cây cỏ; cỏ kết hột giống, cây trái kết quả, tùy theo loại mà có hột giống trong mình trên đất; thì có như vậy.
12 Đất sanh cây cỏ: cỏ kết hột tùy theo loại, cây kết quả có hột trong mình, tùy theo loại. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt lành.
13 Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ ba.

14 Đức Chúa Trời lại phán rằng: Phải có các vì sáng trong khoảng không trên trời, đặng phân ra ngày với đêm, và dùng làm dấu để định thì tiết, ngày và năm;
15 lại dùng làm vì sáng trong khoảng không trên trời để soi xuống đất;
thì có như vậy.
16 Đức Chúa Trời làm nên hai vì sáng lớn; vì lớn hơn để cai trị ban ngày, vì nhỏ hơn để cai trị ban đêm; Ngài cũng làm các ngôi sao.
17 Đức Chúa Trời đặt các vì đó trong khoảng không trên trời, đặng soi sáng đất,
18 đặng cai trị ban ngày và ban đêm, đặng phân ra sự sáng với sự tối. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt lành.
19 Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ tư.

20 Đức Chúa Trời lại phán rằng: Nước phải sanh các vật sống cho nhiều, và các loài chim phải bay trên mặt đất trong khoảng không trên trời.
21 Đức Chúa Trời dựng nên các loài cá lớn, các vật sống hay động nhờ nước mà sanh nhiều ra, tùy theo loại, và các loài chim hay bay, tùy theo loại. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt lành.
22 Đức Chúa Trời ban phước 4 cho các loài đó mà phán rằng: Hãy sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy dưới biển; còn các loài chim hãy sanh sản trên đất cho nhiều.
23 Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ năm.

24 Đức Chúa Trời lại phán rằng: Đất phải sanh các vật sống tùy theo loại, tức súc vật, côn trùng, và thú rừng, đều tùy theo loại; thì có như vậy.
25 Đức Chúa Trời làm nên các loài thú rừng tùy theo loại, súc vật tùy theo loại, và các côn trùng trên đất tùy theo loại, Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt lành.

Dựng nên loài người
26 Đức Chúa Trời phán rằng: Chúng Ta hãy làm nên loài người như hình Ta và theo tượng Ta, đặng quản trị loài cá biển, loài chim trời, loài súc vật, loài côn trùng bò trên mặt đất, và khắp cả đất.

27 Đức Chúa Trời dựng nên loài người như hình Ngài;
Ngài dựng nên loài người giống như hình Đức Chúa Trời;
Ngài dựng nên người nam cùng người nữ.

28 Đức Chúa Trời ban phước cho loài người và phán rằng: Hãy sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy đất; hãy làm cho đất phục tùng, hãy quản trị loài cá dưới biển, loài chim trên trời cùng các vật sống hành động trên mặt đất.

29 Đức Chúa Trời lại phán rằng: Nầy, Ta sẽ ban cho các ngươi mọi thứ cỏ kết hột mọc khắp mặt đất, và các loài cây sanh quả có hột giống; ấy sẽ là đồ ăn cho các ngươi.
30 Còn các loài thú ngoài đồng, các loài chim trên trời, và các động vật khác trên mặt đất, phàm giống nào có sự sống thì Ta ban cho mọi thứ cỏ xanh đặng dùng làm đồ ăn;
thì có như vậy.
31 Đức Chúa Trời thấy các việc Ngài đã làm thật rất tốt lành. Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ sáu.

Trái đất tươi đẹp

Chú thích:

1 Đức Chúa Trời đã đứng từ lúc bắt đầu lịch sử con người. Không có điều gì đến trước Ngài. Không có vật chi được tạo nên mà không bởi Ngài.

2 Kinh Thánh đã dùng nhiều tên gọi để chỉ về Đức Chúa Trời. Tên gọi thông thường trong Cựu Ước là "elohim". Có nghĩa là "quyền năng tối cao." Tên gọi nầy ở thể số nhiều, được dùng để chỉ đến Chúa Ba Ngôi (Trinity).

3 Câu văn ngắn gọn phát biểu rằng chính Đức Chúa Trời đã tạo dựng nên trời và đất đã đối mặt với rất nhiều thử thách trong tư tưởng khoa học ngày nay. Giãi Ngân Hà (The Milky Way galaxy) mà chúng ta đang sinh sống di chuyển với vận tốc vô cùng lớn lao gần hai triệu cây số trong mỗi giờ. Tuy nhiên giãi Ngân Hà nầy cần phải có đến 250 triệu năm mới có thể xoay quanh một vòng quỹ đạo. Và vũ trụ của chúng ta có khoảng hơn một tỉ giãi thiên hà (galaxy) khác giống như của chúng ta.

Một số nhà khoa học phát biểu rằng con số ngôi sao được tạo thành trong vũ trụ bằng với tất cả hạt cát trên tất cả các bải biển của địa cầu hợp lại. Một giãi phức tạp các vì sao chuyển động theo một trật tự khá phi thường và hiệu quả. Khi phát biểu rằng vũ trụ "chỉ tình cờ xãy ra" hoặc "theo tiến hoá" đòi hỏi nhiều vào đức tin hơn để tin rằng chính Đức Chúa Trời đã đứng đàng sau những việc làm đáng kinh ngạc nầy. Chính Ngài đã tạo dựng nên vũ trụ tuyệt vời.

Đức Chúa Trời không cần thiết phải tạo dựng nên vũ trụ; Ngài đã chọn lựa để tạo dựng nó. Tại sao vậy? Đức Chúa Trời là tình yêu thương, và tình yêu là lời phát biểu tốt nhất cho bất kỳ việc gì hay bất cứ người nào khác. Do đó Đức Chúa Trời đã tạo dựng nên thế gian và con người như để bộc lộ tình yêu thương của Ngài. Chúng ta nên tránh giảm bớt đi quyền năng tái tạo của Đức Chúa Trời bằng những danh từ khoa học. Hãy luôn ghi nhớ rằng Đức Chúa Trời tạo dựng nên vũ trụ bởi vì Ngài yêu thương con người chúng ta.

4 "ban phước": Đây là lần đầu tiên chữ quan trọng được đề cập đến. Từ nầy được nhắc đến 88 lần trong sách Sáng Thế, nhiều hơn bất cứ sách nào trong Kinh Thánh. Đức Chúa Trời ban phước cho loài vật (1:22), loài người (1:28), ngày Sa-bát (2:3), A-đam (5:2), Nô-ê (9:1) và các chi tộc (12:3; 17:16).
Ban phước biểu hiện sự bày tỏ ơn huệ của Đức Chúa Trời , và nó được bày tỏ ra qua Giao Ước của Ngài. Tại đây lời ban phước được bảo đảm sự thành công được ứng nghiệm trong mệnh lệnh của Chúa "Hãy sanh sản, thêm nhiều."

 
  • Sách đầu tiên của Kinh Thánh
  • Chương bắt đầu của Kinh Thánh